Tổng công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam

Sản xuất thân thiện môi trường - lợi thế cạnh tranh

Bản in
Sản xuất thân thiện môi trường - lợi thế cạnh tranh

“Không chỉ có thịt heo, Tổng công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam (CPV) còn kiểm soát tốt nguồn thực phẩm gồm thịt gia cầm, trứng, sản phẩm chế biến từ trang trại đến bàn ăn và các trang trại còn đáp ứng các tiêu chuẩn quản lý môi trường hiện đại. 

Công ty xác định tiêu chí “sản xuất thân thiện môi trường” là lợi thế cạnh tranh sống còn khi Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới”- ông Montri Suwanposri - Tổng giám đốc CPV - khẳng định về chiến lược phát triển doanh nghiệp trong tương lai.

Phòng Lab nghiên cứu và xét nghiệm của Tổng công ty

TP. Hồ Chí Minh đang triển khai đề án truy xuất nguồn gốc thịt heo, ông đánh giá như thế nào về cách làm này?

Quản lý chất lượng nông sản bằng biện pháp truy xuất nguồn gốc từ sản xuất đến tiêu thụ là một giải pháp tiến bộ mà nhiều quốc gia trên thế giới đang quan tâm. Tôi rất hoan nghênh TP. Hồ Chí Minh đã tiên phong thực hiện biện pháp quản lý này. Tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi vùng mà có thể lựa chọn cách đi khác nhau cho phù hợp, nhưng tất cả đều hướng đến mục đích là sản phẩm thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng phải đạt các tiêu chí về an toàn. Đề án này thể hiện sự quyết tâm của thành phố trong xử lý mạnh những trường hợp thịt heo không bảo đảm an toàn vệ sinh. Với cách làm tất cả heo sống và heo mảnh đưa vào thành phố tiêu thụ phải được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng vòng nhận diện đeo ở chân, tôi tin tưởng thịt heo trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh bảo đảm an toàn.

Là doanh nghiệp tham gia chương trình heo đeo vòng, ông có thể cho người tiêu dùng rõ quy trình kiểm soát thịt heo mà công ty đang thực hiện?

Ông Montri Suwanposri - Tổng giám đốc CPV

Hệ thống sản xuất thịt heo của CPV bắt đầu từ sản xuất con giống. Heo con nuôi thịt được sản xuất tại một trại chăn nuôi heo nái và tách mẹ lúc 3 tuần tuổi chuyển đến một địa điểm khác để nuôi đến lúc xuất chuồng bán thịt. Phương pháp này chúng tôi gọi là hệ thống chăn nuôi 2 điểm, khác với hệ thống chăn nuôi 1 điểm là heo con sinh ra và nuôi cho đến xuất bán thịt trên cùng một trang trại. Hệ thống chăn nuôi của chúng tôi còn áp dụng giải pháp cùng vào- cùng ra, tức là tất cả heo con được sinh ra từ một trại heo nái, cùng một tuần tuổi, cai sữa cùng ngày và được chuyển đi nuôi cùng trong một chuồng cho đến khi xuất bán thịt. Nhờ vậy, chúng tôi quản lý chính xác về thức ăn, nuôi dưỡng theo từng nhóm heo từ khi sinh ra cho đến khi xuất bán thịt và tất cả hệ thống quản lý này đều thực hiện bằng phần mềm quản lý online. Heo thịt xuất chuồng được chuyển về các trung tâm bán heo hơi và trước khi xuất bán cho TP. Hồ Chí Minh chúng tôi đeo vòng nhận diện để truy xuất nguồn gốc. Mặc dù có đầy đủ dữ liệu của con heo từ khi sinh ra, nhưng trước mắt thành phố đang triển khai giai đoạn 1 là truy xuất nguồn gốc từ trang trại, sau đó giai đoạn 2 sẽ kết nối dữ liệu để người tiêu dùng có thể biết thêm các thông tin khác trong quá trình nuôi dưỡng.

Ông có khẳng định việc đeo vòng nhận diện và dán tem lên từng miếng thịt heo sẽ bảo đảm được chất lượng và kiểm soát hết các rủi ro về an toàn vệ sinh thực phẩm?

Khi người chăn nuôi tự nguyện đeo vòng nhận diện vào chân heo để xuất bán là đã tự khẳng định, tự chịu trách nhiệm với khách hàng. Với hệ thống quản lý của CPV, chúng tôi bảo đảm những con heo xuất bán thịt đều bảo đảm chất lượng cho người tiêu dùng trong cả nước. Việc đeo vòng nhận diện toàn bộ heo hơi đưa vào thành phố để giết mổ và heo mảnh đưa vào thành phố để tiêu thụ sẽ quản lý được phần lớn lượng thịt heo tiêu thụ trên địa bàn. Với quyết tâm cao, thực hiện triệt để của thành phố, về mặt tổng thể, đã cơ bản quản lý được chất lượng thịt heo. Thành phố cũng đang nỗ lực tuyên truyền để tất cả các thành phần tham gia vào chuỗi giá trị thịt heo này hiểu, tham gia và thực hiện đúng theo yêu cầu của đề án. Đồng thời yêu cầu cần được truy xuất nguồn gốc từ phía người tiêu dùng cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đề án này.

Với hệ thống trang trại rất lớn trên khắp cả nước, cách nào để CPV giám sát, truy xuất nguồn gốc?

Hoạt động chăn nuôi của CPV được thực hiện theo phương thức hợp tác giữa người dân và công ty. Trong đó, toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất thực phẩm như con giống, thức ăn chăn nuôi, giám sát kỹ thuật chăn nuôi đều do CPV thực hiện. Các ứng dụng công nghệ phục vụ quản lý (như các hệ thống software có thể ghi chép lại hiệu quả trong chăn nuôi heo như: Sử dụng thức ăn chăn nuôi gì, từ nhà máy nào, sử dụng thuốc thú y gì…), đều được công ty lắp đặt hệ thống giám sát hành trình (GPS) hay camera online để theo dõi. Hợp đồng hợp tác chăn nuôi giữa công ty với người dân cũng thể hiện rất rõ các quy định cấm tự ý sử dụng thuốc thú y ngoài danh mục của CPV và chỉ do CPV cung cấp. Đặc biệt, nghiêm cấm sử dụng các chất cấm theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngoài nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, yếu tố sản xuất bền vững gắn với môi trường cũng rất quan trọng. Vấn đề này đang được CPV thực hiện ra sao thưa ông?

Có rất nhiều hoạt động bảo đảm cho sản xuất bền vững được công ty quan tâm, ứng dụng như hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO, VietGAP, Chứng nhận an toàn dịch bệnh, hay tiêu chuẩn riêng của CPV như SHE (an toàn - sức khỏe - môi trường). Hệ thống quản lý này giúp CPV tăng cường các giải pháp quản lý và cải tiến kỹ thuật, đặc biệt là môi trường, như ứng dụng biogas, máy ép tách phân heo, tái sử dụng nguồn nước, tiết kiệm năng lượng. Chỉ riêng về máy ép tách phân trước khi đưa vào xử lý biogas mà CPV đang áp dụng đã là một tiến bộ mới, làm giảm hẳn mức độ ô nhiễm của nguồn nước đầu ra từ hầm biogas, tăng tuổi thọ hầm biogas, giảm chi phí nạo vét hầm biogas.

Ngành chăn nuôi dự báo sẽ gặp khó khi các hiệp định thương mại có hiệu lực, thuế bảo hộ không còn. Theo ông, ngành chăn nuôi của Việt Nam cần chuẩn bị những gì để hội nhập?
Nông dân chúng ta chăn nuôi thuộc diện “vùng sâu, vùng xa” sắp tới họ sẽ phải cạnh tranh với ngành nông nghiệp công nghệ cao ở những nước phát triển và phải đối phó với làn sóng thương mại tự do đang ngày càng mạnh mẽ. Giá thành chăn nuôi heo ở Việt Nam cao hơn một số nước 30% thì rõ ràng là sức cạnh tranh của chúng ta yếu hơn nhiều. Vấn đề mấu chốt ở đây là phải nâng cao hiệu quả của toàn bộ các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất thực phẩm để sản xuất ra giá thành cạnh tranh. Doanh nghiệp hay nông hộ tham gia vào chuỗi giá trị ở khâu nào thì phải tính toán kỹ ở khâu đó. Ví dụ như trồng bắp như thế nào để có giá cạnh tranh thì chăn nuôi mới sử dụng bắp trong nước, không phải nhập khẩu, trong khi đó thức ăn chăn nuôi chiếm trên 60% giá thành chăn nuôi. Nếu quyết tâm và đồng lòng thì chăn nuôi Việt Nam vẫn có nhiều thế mạnh để phát triển.

Xin cảm ơn ông!

Tin mới cập nhật
Các tin khác