​ Ngành mây tre đan xuất khẩu- Tìm nguồn cung ổn định

Bản in
​ Ngành mây tre đan xuất khẩu- Tìm nguồn cung ổn định

Cơ hội đối với ngành mây tre đan Việt Nam là rất khả quan và dự kiến có thể vươn lên chiếm từ 8-10% thị trường thế giới. Tuy nhiên, để nắm được cơ hội này, các chuyên gia cho rằng, nguyên liệu đầu vào ổn định, chất lượng là hết sức quan trọng.

Việt Nam hiện có trên 1.000 làng nghề mây tre đan

Cơ hội thị trường rộng mở

Hiện, Việt Nam có trên 1.000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số các làng nghề trong cả nước. Đến nay, các sản phẩm mây tre đan đã xuất khẩu (XK) tới 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch XK trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch XK hàng thủ công mỹ nghệ. 

Tuy nhiên, theo thống kê của Trademap (hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của các nước), thị phần mây tre đan Việt Nam trên thị trường thế giới mới đạt khoảng 3,37%. Trong đó, hai thị trường lớn là Mỹ chiếm 20%, Nhật Bản 16% tổng giá trị XK. Theo các chuyên gia ngành mây tre đan của Việt Nam còn nhiều cơ hội phát triển, có khả năng chiếm được 8 - 10% thị trường thế giới và đạt được giá trị khoảng 1 tỷ USD trong tương lai. 

Tại Hội nghị kết nối cung cầu nguyên liệu đầu vào ngành mây tre đan giữa Hà Nội và các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa tổ chức mới đây, ông Hoàng Xuân Thủy - Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Phát triển công nghiệp Hà Nội - cho biết: Một số thị trường mới nổi những năm gần đây như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Nga, Úc… đang có xu hướng nhập khẩu nhiều các mặt hàng mây tre đan từ Việt Nam. Đặc biệt, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng mây tre đan Việt Nam của Tây Ban Nha tăng bình quân 13,2%, Trung Quốc tăng 40%/năm.

Khó nguồn cung nguyên liệu

Theo ông Hoàng Xuân Thủy, mặc dù cơ hội rất lớn, nhưng khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp (DN) sản xuất chính là thiếu nguồn cung nguyên liệu đầu vào. Nhiều đơn vị phải từ chối một số đơn hàng XK lớn. Hiện, nguồn cung nguyên liệu chính cho các làng nghề mây tre đan của Hà Nội là từ các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và một phần nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn cung này chủ yếu thông qua con đường tiểu ngạch, sản lượng thấp, thường xuyên biến động… đã tác động không tốt đến hoạt động sản xuất của các DN, nhất là triển khai các đơn hàng lớn. 

Bà Nguyễn Thị Lương - Công ty TNHH mây tre đan XK Hiền Lương - chia sẻ, so với năm 2016 giá nguyên liệu đầu vào của ngành mây tre đan tăng lên nhiều. Cụ thể, đối với cây bượt tăng 15 nghìn đồng/kg, giá cây bèo tây cũng tăng 12 nghìn đồng/kg, do đó các đơn hàng XK đàm phán với khách gặp rất nhiều khó khăn. 

Cần đồng bộ các giải pháp

Trước kiến nghị của các DN, ông Nguyễn Hồng Phong - Phó Cục trưởng Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) - đề nghị: Sở Công Thương Hà Nội cần chủ động tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi, đặc biệt là ưu tiên khai thác, chế biến tạo vùng nguyên liệu đối với ngành mây tre đan. Các DN, cơ sở sản xuất hàng mây tre đan của Hà Nội có thể liên kết đầu tư xưởng sản xuất ngay tại các địa phương của 3 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh để tận dụng nguyên vật liệu, nhân công, giảm các chi phí và góp phần tạo chuỗi cung cầu hoàn thiện và có hiệu quả…

Theo các chuyên gia, để phát triển ngành mây tre đan một cách bền vững, ngoài việc đảm bảo đủ nguồn cung nguyên liệu đầu vào, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các làng nghề, người dân, DN và các cơ quan quản lý nhà nước, đưa ra các giải pháp đồng bộ như quy hoạch vùng nguyên liệu, xây dựng các trung tâm xử lý, bảo quản nguyên liệu và đổi mới mẫu mã sản phẩm. 

Hàng năm nước ta tiêu thụ từ 400-500 triệu cây tre nứa và từ 600 - 800 tấn song, mây nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và XK

Tin mới cập nhật
Các tin khác