Đầu tư công nghệ mới để giảm tổn thất điện năng

Bản in
Đầu tư công nghệ mới để giảm tổn thất điện năng

Việt Nam hiện xếp thứ 88/137 quốc gia về chỉ số tổn thất điện năng với tỷ lệ tổn thất 8,95%. Để giảm tổn thất điện năng, giải pháp tốt nhất là đầu tư công nghệ, thiết bị mới và hạn chế tối đa tình trạng trộm cắp điện.

Ông Lê Xuân Thái -Trưởng ban Quan hệ cộng đồng EVN SPC cho rằng tổn thất điện năng là vấn đề lớn cần được ngành điện cải tạo, đầu tư mạnh mẽ trong tương lai

Ông Nguyễn Tấn Nghiệp, Hội Điện lực miền Nam cho biết tại Hội thảo “Tổn thất điện năng và nhà máy nhiệt điện than” tổ chức tại huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu sáng ngày 11/5/2017.

Tổn thất điện năng còn cao

Tại hội thảo do Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) phối hợp với Hội Điện lực miền Nam tổ chức, ông Nguyễn Tấn Nghiệp cho biết, căn cứ theo bảng xếp hạng về tỷ lệ tổn thất điện năng (TTĐN) của thế giới do Cơ quan Năng lượng Quốc tế thống kê vào năm 2013, Việt Nam xếp thứ 88/137 quốc gia với tỷ lệ tổn thất 8,95%. Nguyên nhân TTĐN cao chủ yếu xảy ra trên hệ thống lưới điện truyền tải và trên lưới điện phân phối, trong đó tỷ lệ TTĐN trong hệ thống điện chủ yếu nằm ở lưới phân phối điện.

Tại Việt Nam, ngoài TTĐN trên hệ thống truyền tải, còn có nguyên nhân từ tình trạng câu trộm điện vẫn đang xảy ra phổ biến ở hầu hết địa phương, nhất là vùng nông thôn. Ông Trần Công Điền, Phó ban Kỹ thuật EVNSPC cho rằng, để kéo giảm TTĐN xuống mức thấp nhất, ngoài việc ngành điện phải tiếp tục đầu tư công nghệ hiện đại vào hệ thống điện, cần ngăn chặn triệt để những hành vi vi phạm trong sử dụng điện.

Đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chia sẻ, năm 2016 tỷ lệ TTĐN của Việt Nam là 7,94%; đến năm 2020 phấn đấu giảm xuống 6,5%; riêng EVNSPC năm 2016 tỷ lệ TTĐN là 5,19%, đến năm 2020 hạ xuống còn 4%. Trong đó, áp dụng nhiều giải pháp về quản lý kỹ thuật, vận hành lẫn đẩy mạnh đầu tư xây dựng. Theo đó, trong giai đoạn 2016-2020, EVN đầu tư 24 tổ máy thuộc 13 dự án nguồn điện với tổng công suất 6.989 MW. Mặt khác, đảm bảo tiến độ các dự án nguồn điện trọng điểm và các nguồn điện cấp bách khu vực miền Nam. Về lưới điện, thực hiện đầu tư các công trình nâng cao năng lực hệ thống điện truyền tải, đấu nối và giải tỏa công suất nguồn điện; phát triển vành đai lưới điện ở cấp điện áp 500kV, 220kV khu vực TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và các vùng kinh tế trọng điểm. Bên cạnh đó, lựa chọn dây dẫn, máy biến áp đảm bảo mức mang tải của các đường dây không quá 50%, trạm biến áp không quá 75% so với công suất định mức. Chọn dây dẫn có độ tinh khiết của nhôm cao, có tổn thất thấp; dây dẫn có các sợi bện hình thang, có tiết diện nhôm lớn hơn và điện trở nhỏ hơn; dây dẫn composit ACCC có khả năng chịu kéo, mang tải cao, độ võng nhỏ... giảm TTĐN. Thực hiện nâng điện áp từ 6, 10, 15 kV lên 22kV để nâng cao khả năng cung cấp điện, giảm tỷ lệ giảm TTĐN trên lưới trung áp.

Tiến sỹ Trần Trọng Quyết phát biểu tại hội thảo

Xây dựng nhiệt điện than là tất yếu

Các chuyên gia tham dự hội thảo đánh giá, với cơ cấu về sản lượng điện của 3 loại nguồn (gồm thủy điện, năng lượng tái tạo, nhiệt điện khí) vào năm 2020 chỉ đạt 48,3%; đến năm 2030 giảm còn 39,9%. Theo Quy hoạch điện VII, nhu cầu điện tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2030 bình quân khoảng 9-10% /năm, gấp khoảng 1,5 lần tăng trưởng GDP. Trong khi đó, hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận đã được Quốc hội có quyết định tạm dừng xây dựng. Vì an ninh năng lượng quốc gia, chiến lược phát triển các nhà máy nhiệt điện than (NĐT) cần được xem xét thận trọng nhiều mặt, từ an ninh năng lượng, kinh tế-xã hội lẫn vấn đề ô nhiễm môi trường.

Phó Chủ tịch Hội Điện lực miền Nam Trần Trọng Quyết nhìn nhận, trong thời gian tới nguồn cung điện trong nước thiếu hụt khoảng 50% sản lượng. Vì vậy việc chọn lựa nguồn cung điện thích hợp trong đầu tư xây dựng là cần thiết. Đối với nhà máy NĐT có một số hạn chế như chiếm diện tích đất lớn vì phải trang bị hệ thống cung cấp than, đặc biệt là bãi thải tro xỉ, nếu không có giải pháp sử dụng lại. Chưa kể, NĐT không linh hoạt trong vận hành, thích hợp với chế độ vận hành ở phụ tải đáy, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao; đời sống kinh tế của NĐT thấp, nhu cầu nước làm mát rất lớn. Đây là những khuyết nhược điểm chính yếu cần xem xét thận trọng khi quyết định đầu tư xây dựng nhà máy NĐT.

Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí Việt Nam Nguyễn Văn Thụ chia sẻ, xây dựng nhà máy NĐT là nhu cầu cấp thiết để đáp ứng nguồn cung điện, nhưng Chính phủ cần ban hành chính sách, quyết định riêng để thực hiện nhằm đảm bảo an ninh, môi trường, không nên giao cho các đơn vị doanh nghiệp tự chọn lựa công nghệ, nhà thầu như lâu nay mà phải được chọn lọc kỹ càng và giám sát chặt chẽ.

Tiến sỹ Trần Trọng Quyết cho rằng, NĐT tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên để phát triển bền vững NĐT cần triển khai đồng bộ các giải pháp như đầu tư công nghệ hiện đại; có chủ trương, cơ chế để thu hồi, tái chế, sử dụng tối đa các chất thải xỉ than và cần có giải pháp đáp ứng đủ nguồn than cho các nhà máy. Để giảm thiểu tác động môi trường của NĐT, cần áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến ở mức có thể chấp nhận được đối với điều kiện kinh tế đất nước để giảm thiểu khối lượng phát thải, thực hiện các giải pháp thu gom, xử lý và sử dụng các chất phế thải rắn để sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng hữu hiệu.

“Nếu không phát triển nhà máy NĐT, đến năm 2020 theo bảng cân đối công suất và sản lượng điện, Việt Nam sẽ thiếu hụt 42,7% tổng công suất và 49,3% tổng sản lượng điện; năm 2030 thiếu đến 42,6% tổng công suất và 53,2% sản lượng điện”- tiến sỹ Trần Trọng Quyết khẳng định.

Tin mới cập nhật
Các tin khác