CôngThương - Điều này không chỉ có ý nghĩa với khu vực châu Á mà còn nhận được sự quan tâm của dư luận quốc tế bởi lẽ khu vực thương mại tự do này sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh chính của Liên minh Châu Âu (EU) và Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cả về tiềm lực dân số và sức mạnh kinh tế.
Theo lộ trình thực hiện Hiệp định Thương mại tự ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), từ đầu năm 2010 trở đi, giữa Trung Quốc và 6 nước thành viên sáng lập ASEAN (Indonesia, Brunei, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Singapore) sẽ áp dụng mức thuế 0 % đối với 90 % hàng hóa. Còn những nước thành viên khác (Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma) sẽ thực hiện chế độ này kể từ năm 2015.
Có thể nói, quan hệ thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc trong suốt thời gian qua đã đạt được những bước tiến quan trọng, Trung Quốc đã trở thành một đối tác chủ chốt của ASEAN. Năm 2008, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN với khối lượng giao dịch thương mại chiếm 11,3 % tổng giá trị thương mại của ASEAN (tương đương 192,6 tỷ USD) còn kim ngạch thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đạt con số ấn tượng với 13,3 % tổng giá trị thương mại toàn cầu và chiếm tới một nửa giá trị thương mại của toàn Châu Á…
Việc Khu vực Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc trở thành hiện thực hứa hẹn sẽ mở ra bức tranh tươi sáng hơn trong quan hệ thương mại giữa các bên trong thời gian tới. Bởi lẽ lợi ích của các nước là hết sức rõ ràng, không chỉ hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ mà còn khiến người tiêu dùng được tiếp cận nhiều chủng loại hàng hóa rộng rãi hơn trước. Cùng với đó là cơ hội tăng trưởng thị trường tại khu vực Châu Á, hạ thấp chi phí nhập khẩu vì các thương vụ dành cho các đối tác xa cách về địa lý sẽ chịu giá cao hơn…
Sự thiết lập một Khu vực Thương mại tự do toàn diện thể hiện quan hệ thương mại hai chiều sẽ ngày càng sâu sắc hơn và giúp các nước nâng cao khả năng phục hồi kinh tế khu vực, sau những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua. ACFTA có hiệu lực sẽ giúp Trung Quốc đảm bảo nguồn cung nguyên liệu thô và mở cửa các thị trường mới cho các quốc gia ASEAN.
Tuy nhiên, việc thực thi nội dung của ACFTA đã gặp một số khó khăn khi đầu tháng 1 vừa qua, Indonesia đã chính thức đề nghị các nước ASEAN hoãn thực hiện cắt giảm thuế với 228 mặt hàng trong khuôn khổ của Hiệp định. Indonesia là quốc gia tiên phong muốn trì hoãn thực thi ACFTA sau khi các doanh nghiệp của một số ngành công nghiệp nước này lên tiếng lo ngại rằng hàng hóa nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc có thể sẽ đe dọa ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, các mặt hàng tập trung vào các lĩnh vực dệt may, sắt thép, thực phẩm… là những lĩnh vực dễ bị “tổn thương” nhất trước làn sóng hàng giá rẻ của Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Indonesia đã thành lập một nhóm điều tra với sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp nhằm xem xét những tác động tiêu cực của ACFTA có thể có ảnh hưởng tới nền kinh tế nước này.
Mặc dù vậy, Tổng Thư ký ASEAN – ông Surin đã bác bỏ những luận điểm cho rằng việc ACFTA có hiệu lực sẽ gây bất lợi cho các nước ASEAN. Ông khẳng định toàn cảnh bức tranh thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã có những thay đổi rất khả quan từ thập kỷ trước, với kim ngạch thương mại tăng trung bình hàng năm là 26 % trong giai đoạn 2003-2008. Thực tế là một số ngành công nghiệp sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh mới, nhưng trên tất cả, Khu vực Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc hướng tới khai thác tối đa lợi ích thương mại của các bên nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và tạo việc làm.
Nhân dịp này, ông Surin cũng nhấn mạnh rằng để tận dụng được lợi thế của ACFTA một cách hiệu quả, các nước ASEAN cần cải thiện tổ chức, tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa, tạo một môi trường đầu tư cởi mở và ổn định… Điều này sẽ khuyến khích luồng vốn đầu tư từ Trung Quốc vào ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng. Trong chiến lược đầu tư toàn cầu của Trung Quốc, nước này đã dành 10 tỷ USD để cải thiện hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không và thông tin liên lạc giữa ASEAN và Trung Quốc. Đồng thời nước này cũng dành khoản tín dụng 15 tỷ USD nhằm thúc đẩy các hoạt động hội nhập và liên kết khu vực. Như vậy, triển vọng của ASEAN trong việc thu hút vốn đầu tư từ Trung Quốc là rất lớn, các nước ASEAN phải nhận thấy việc hình thành Khu vực Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc là cần thiết để ASEAN học hỏi, nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới hội nhập sâu rộng hơn và thành công hơn trong môi trường kinh tế toàn cầu đầy khó khăn và thử thách.
Tuyết Minh
Văn phòng UBQG- HTKTQT